Phong tục đẹp ngày xuân

Mỗi nơi trên thế giới đều có những phong tục đón Tết khác nhau, có phong tục tồn tại và phát triển, có phong tục lại mất đi theo đà phát triển của xã hội. Riêng phong tục đón Tết của dân tộc ta bắt nguồn từ những điển tích, huyền thoại xa xưa xem ra có vẻ huyền bí, nhưng nếu tìm hiểu kỹ sẽ thấy nó mang nhiều ý nghĩa thực tế. Phong tục ngày Tết phản ánh những đặc thù của nền văn hoá Việt qua nhiều thế hệ, trong đó có nhiều phong tục rất hay, đáng được gọi là thuần phong mỹ tục như: khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ,… Thời buổi hiện đại, nhịp sống luôn hối hả, tất bật khiến một số gia đình cũng như nhiều bạn trẻ dường như lãng quên đi những phong tục truyền thống ngày Tết, nhưng may mắn là phần đông các gia đình Việt Nam vẫn giữ được nét văn hóa tốt đẹp này.


Tục cúng Ông Táo
Thường lệ vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, từ thành thị đến thôn quê, khắp nơi trong nước ta, dân chúng làm lễ tiễn đưa “Ông Táo chầu trời”. Người Việt tin rằng, hàng năm, cứ đến này Táo Quân lại cưỡi cá chép bay về trời để tâu với Ngọc Hoàng về việc làm ăn, cư xử của mỗi gia đình dưới hạ giới. Cho đến đêm Giao thừa Táo Quân mới trở lại trần gian để tiếp tục công việc coi sóc bếp lửa của mình. Vị Táo Quân quanh năm ở trong bếp nên biết hết mọi chuyện hay dở tốt xấu của mọi người, cho nên để Vua Bếp “phù trợ” cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa Ông Táo về chầu Ngọc Hoàng rất trang trọng.
Lễ cúng thường diễn ra trước 12h trưa. Lễ vật tùy tâm nhưng không thể thiếu ba bộ mũ áo, hia hài Táo Quân cùng tiền vàng mã và Ba con cá chép sống (hoặc bằng giấy). Sau khi cúng xong, người ta sẽ hóa vàng đồ lễ, nếu có cá sống thì sẽ đem thả xuống sông, hồ, biển hay giếng nước, tùy theo khu vực họ sinh sống để cá chở ông Táo lên chầu Trời.
Tục dựng cây nêu ngày Tết
Theo cổ lệ, hàng năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán thì người ta trồng cây nêu để xua Quỷ không bén mảng đến chỗ Người cư ngụ. Cây nêu là một hình ảnh mang tính chất biểu tượng, đó là một cây tre cao khoảng 5m-6m, thường được trồng ngay trước sân nhà. Trên ngọn nêu treo nhiều thứ (tùy từng địa phương) như cái túi nhỏ đựng trầu cau, khánh đất, ống sáo, những miếng kim loại lớn nhỏ, những vật mang ý nghĩa tâm linh xua đuổi ma quỷ và cầu mong một năm mới tốt lành. Khi có gió thổi chúng chạm vào nhau và phát ra tiếng leng keng như tiếng phong linh, rất vui tai. Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu…
Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo quân về Trời, với quan niệm chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo quân, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về phá phách, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Đến hết ngày mùng Bảy Tết thì cây nêu được hạ xuống.
Hiện nay, phong tục trồng cây nêu ngày Tết đã dần mất đi trong cộng đồng người Việt hiện đại. Tục dựng và hạ nêu tại nhiều nơi chỉ còn trong tâm tưởng và được nhắc đến trong ký ức của những người già hoặc qua sách vở mà thôi. Cây nêu chỉ còn bắt gặp lác đác tại một số vùng quê, trong cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng thượng du Bắc Bộ hay Tây Nguyên.


Tục gửi Tết và biếu quà Tết
Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Vào dịp Tết, để bày tỏ lòng biết ơn đối với Tổ Tiên; hoặc người dưới đối với người trên; hoặc những người mà mình phải chịu ơn hay quý mến, người ta thường hay mua sắm quà Tết (như bánh chưng, hoa quả, mứt, trà, rượu,…) để đem đi tặng biếu. Tục lệ biếu Tết này trước đây rất phổ thông, nào là học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ,… để tỏ lòng biết ơn. Con cái biếu bố mẹ gồm cả tiền bạc; Bạn bè thân tặng nhau tranh, ảnh, thơ, phú…; Làng xã tổ chức yến lão mừng thọ người già. Theo đó, có những quà Tết không phải bằng tiền, có quà bằng tiền mặt, có những đám tổ chức lớn như làm tiệc mừng lão, nhưng điều quan trọng nhất là quà Tết phải thể hiện được tình cảm của người biếu thì món quà mới có ý nghĩa.
Riêng đối với việc con, cháu đem quà Tết hay lễ vật tới cúng ở các nhà thờ Tổ Tiên, dòng tộc nhân ngày Tết, thì gọi là gửi Tết. Tục này để tỏ lòng biết ơn Tổ Tiên, kính trọng các bậc phụ huynh trưởng và giữ mối liên lạc thân ái trong gia tộc… Các tục biếu Tết hay gửi Tết này phải được thực hiện trước ngày 30 Tết.
Tục bày mâm ngũ quả
Trên bàn thờ tổ tiên của mỗi gia đình trong những ngày Tết không thể thiếu mâm ngũ quả. Tuy rằng mỗi vùng miền có quan niệm và cách bài trí mâm ngũ quả khác nhau nhưng ý nghĩa thì không thay đổi. Tục bày mâm ngũ quả của người Việt có từ lâu đời, nó thể hiện tấm lòng của con cháu luôn hướng về tổ tiên. Ngoài ý nghĩa này, mâm ngũ quả còn là sự bày tỏ mong ước của gia chủ cho một năm mới sung túc, an vui và nhiều may mắn. Sở dĩ dân ta bày mâm ngũ quả bởi người xưa quan niệm, 5 loại quả tượng trưng cho “ngũ hành”: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ (đây là 5 yếu tố cấu thành vũ trụ theo triết lý của Khổng giáo phương Đông). Bên cạnh ý nghĩa trên, dân gian còn coi “quả” là tượng trưng cho thành quả lao động trong một năm. 5 loại quả bày trên bàn thờ có ngụ ý kính dâng đất trời, tổ tiên thành quả lao động của mình sau một năm làm việc. Mâm ngũ quả thường được xếp thành hình tháp, được đặt ở nơi trang trọng nhất trên bàn thờ. Nó thể hiện sinh động ý tưởng triết lý – tín ngưỡng – thẩm mỹ ngày Tết.
Tục cúng Giao thừa
Giờ phút cuối cùng của năm cũ qua đi và đón năm mới đến được gọi là Giao thừa. Dân gian cho rằng, mỗi năm ông Trời đều phân công một vị thần xuống cai quản mặt đất, thời khắc Giao thừa cũng chính là lúc vị thần cũ kết thúc nhiệm vụ của mình, bàn giao lại công việc cho vị thần mới. Những lúc ấy, các gia đình thường bày mâm cỗ cúng Giao thừa để bày tỏ lòng biết ơn vị thần cai quản năm cũ đã trông coi, “phù hộ” cuộc sống của gia đình họ được bình yên, no ấm và cũng để chào đón vị thần mới, cầu mong ông sẽ mang nhiều may mắn và hạnh phúc đến trong năm mới.

Vì thời gian các vị thần gặp nhau để bàn giao công việc không dài cho nên người ta phải sắp đồ lễ cúng Giao thừa ở ngoài trời, để các vị thần có thể chứng giám lòng thành. Tục lệ cúng Giao thừa cũng là để con người cảm ơn trời, đất, chính vì thế mà lễ cúng Giao thừa bao giờ cũng rất linh thiêng và quan trọng không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt.
Tục chúc Tết
Sáng sớm mồng một Tết hay ngày “Chính đán”, mọi sinh hoạt ngừng lại, con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ tiên chúc Tết ông bà, các bậc huynh trưởng và mừng tuổi lẫn nhau. Trong ba ngày Tết, những thân bằng quyến thuộc hoặc những người phải chịu ơn người khác thường phải đi chúc Tết và mừng tuổi gia chủ, sau đó xin lễ ở bàn thờ Tổ tiên của gia chủ.
“Mồng một là Tết nhà cha”, “Mồng hai nhà mẹ “, “Mồng ba Tết thầy”. Tết Nguyên đán là dịp để mọi người có điều kiện thăm hỏi lẫn nhau: con cháu chúc Tết ông bà, cha mẹ; học trò thăm hỏi thầy cô; bạn bè gặp mặt chúc tụng nhau,… Người nào thích điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khoẻ là phổ biến nhất, luôn hướng tới sự tốt lành và kiêng nói tới những điều rủi ro hoặc chuyện không vui. Nhiều nhà, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó chủ mới vui lòng, năm mới từ chối sợ bị “ giông” cả năm.


Xuất hành
Đầu năm mới, người Việt còn có tục xuất hành. Xuất hành là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm để mong gặp may mắn cho mình và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ và các hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỷ thần,…
Thường thường, người ta theo các hướng tốt, xuất hành đi lễ chùa, đền hoặc đi chúc Tết các bậc huynh trưởng, thân quyến hay bằng hữu. Đối với nhà nông ngày xưa, đầu năm mới xuất hành còn để chiêm nghiệm thời tiết. Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc người ta đi ra khỏi nhà xem chiều gió thổi, qua đó có thể đoán được năm mới may hay rủi.
Tục hái lộc:
Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một “cành lộc” để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục “hái lộc”. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si, cây xương rồng,… là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa) thường được đem về cắm trên bàn thờ Tổ Tiên. Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ. Lộc tự nhiên đến càng sớm càng tốt, nhưng nhiều nhà chủ vẫn tự đi hái lộc.
Tục xông đất:
Người Việt quan niệm “đầu xuôi, đuôi lọt”, chính vì vậy mà vào ngày mùng 1 Tết, nếu mọi điều đều diễn ra suôn sẻ thì đó là dấu hiệu tốt cho một năm mới bắt đầu. Người khách đầu tiên bước vào nhà trong năm mới sẽ đem lại may mắn hoặc rủi ro cho gia đình trong cả năm đó. Vì quan niệm đó, người Việt thường có thói quen xem tuổi, xem tính cách để mời một người khách “vía tốt” hoặc hợp tuổi chủ nhà (thường là đàn ông vì theo dân gian, đàn ông có bảy vía, đàn bà chín vía nên đàn ông “nhẹ vía” hơn) xông đất nhà mình vào đêm Giao thừa, hoặc sáng mồng một Tết với mong muốn gia đình sẽ được hưởng những điều tốt đẹp từ người khách ấy. Nếu người khách có tính tình cởi mở, tốt bụng, mau mắn, vui vẻ mà tuổi lại hợp với chủ nhà thì đó là điều hết sức may mắn cho gia chủ. Đó là lý do tại sao người lớn thường không cho trẻ con tự tiện đến nhà người khác vào sáng mùng 1 Tết. Trong những ngày đầu tiên của năm mới, ai cũng muốn tránh những điều không hay, không vui cho mình và cho cả người khác để mọi người đều có một năm thật thuận lợi. Mặc cho khách ào đến cái rồi lại đi nhưng mâm cỗ để tiếp khách xông đất bao giờ cũng được gia chủ chuẩn bị cực kỳ thịnh soạn. Như thế đủ chứng tỏ rằng tục xông đất ngày Tết được người Việt rất coi trọng.
Tục mừng tuổi (lì xì):
Lì xì là khoản tiền nhỏ được người lớn chuẩn bị trong phong bao màu đỏ và cho trẻ con vào ngày đầu năm cùng những lời chúc chăm ngoan, mau lớn. Phong bao lì xì có ý nghĩa mang đến sự may mắn, thuận lợi cho trẻ em; bao lì xì đỏ tươi cũng chính là tấm lòng, sự yêu thương của người lớn trong gia đình dành cho con, cháu nhân dịp bắt đầu một năm mới.

Có câu chuyện cổ kể rằng ngày xưa ở Trung Quốc có cặp vợ chồng lớn tuổi mới sinh được mụn con trai. Tết năm ấy, có 8 vị tiên dạo qua nhà, biết trước cậu bé này sẽ gặp tai họa với yêu quái liền hóa thành 8 đồng tiền đồng để ngày đêm túc trực bảo vệ bên bé. Khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại, đặt lên gối con. Nửa đêm, yêu quái xuất hiện, vừa giơ tay định xoa đầu dọa đứa trẻ thì từ bên chiếc gối lóe lên những tia vàng sáng rực khiến nó kinh hoàng bỏ chạy. Tục mừng tiền lì xì ra đời từ đó và có ý nghĩa như một món lộc trừ tai họa, mang lại may mắn cho trẻ nhỏ.
Tục chơi hoa cây cảnh
Hoa là linh hồn, hoa là cảnh sắc thiên nhiên trang điểm cho đời, nếu thiếu hoa thì còn gì là ngày Tết nữa. Vì vậy chơi hoa, cây cảnh ngày Tết là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu của mọi gia đình Việt từ xưa tới nay, hơn nữa nó còn mang nhiều ý nghĩa. Trên bàn thờ gia tiên cắm những bông vạn thọ, trường xanh với sắc hoa vàng rực, đã nói lên được điều ước mong của mọi người là năm mới khoẻ mạnh và trường thọ. Trong nhà cắm cành Đào, chưng chậu Mai, cây Quất hay cắm lọ hoa tươi với mong ước đời sống của gia đình trong năm mới sẽ hạnh phúc, tươi vui, may mắn, phát đạt, có của ăn của để. Những điều mong ước đó được thể hiện qua sắc đỏ thắm của đào, vẻ rực rỡ của những cánh mai, sự mơn mởn của những đóa hoa tươi hay sự sung túc đầy đủ của Quất tứ quí (tứ quí: quả chín, quả xanh, hoa, lộc). Chơi Đào, chơi Quất trong những ngày Tết, với người miền Bắc, còn mang ý nghĩa trừ tà ma.
Tục treo câu đối Tết
Mỗi năm, khi Tết đến, cùng với việc mua sắm hàng Tết, người ta không quên mua dăm quả cau, bao chè tới xin cụ Nghè, cụ Cử câu đối Tết để thờ. Câu đối thờ viết trên giấy đỏ dán ở cột, ở cửa nhà nội dung thường bày tỏ lòng biết ơn của cháu con đối với tiên tổ.
Vậy tục treo câu đối Tết có từ bao giờ? Sách xưa có kể phong tục của người dân Bách Việt, trong ngày Tết Nguyên đán treo bùa gỗ “Đào phù” có hình hai vị thần Thần Ðồ và Uất Luỹ hai bên cửa ngõ. Ðó là hai vị thần sống dưới gốc đào lớn dưới núi Ðộ Sóc chuyên cai quản đàn quỷ, quỷ nào “phá rào” đi làm hại dân hễ nhìn thấy “Đào phù” là sợ. Sau này việc treo bùa gỗ “Ðào phù” được thay bằng câu đối đỏ hai bên cửa.
Ðời sống khấm khá dần, mỗi người, tuỳ hoàn cảnh, gửi gắm vào câu đối những ý tứ, những niềm vui cùng ước vọng vào một năm mới đang đến. Lại có cả câu đối nói về nghề nghiệp dán ở cửa hàng, cửa hiệu. Và hàng năm, như đã thành lệ đẹp, vào dịp Tết, tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám – Hà Nội lại tổ chúc triển lãm thư pháp, thư hoạ. Dịp này một số nhà nho lại được mời đến viết câu đối tết. Vẻ xưa khơi dậy đã thu hút hàng ngàn người trong và ngoài nước tới chiêm ngưỡng.
Tục khai bút/ khai ấn/ khai canh
Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ấn, học trò sẽ khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở cửa hàng lấy ngày. Nếu mồng Một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu, riêng khai bút thì giao thừa xong chọn giờ hoàng đạo thì bắt đầu, không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Sau ngày mồng Một, tất cả Sĩ, Công, Nông, Thương “ Tứ dân bách nghệ” đều chọn ngày “khai nghề”. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng cụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, ai cũng chọn ngày tốt mới mở hàng nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.
Những Kiêng kị ngày Tết
Trong 3 ngày đầu năm mới người ta thường thận trọng lời ăn tiếng nói và hành động vì tin rằng có thể đem lại may rủi cho cả năm. Thí dụ như: Không khóc lóc than thở hay làm vỡ đồ đạc vì đó là dấu hiệu của sự đổ vỡ trong gia đình; Kiêng không cho lửa hay cho nước trong những ngày đầu năm vì Lửa đỏ tượng trưng cho sự may mắn, no ấm, đầy đủ, Nước được coi là biểu tượng cho sự thịnh vượng và tài lộc, của cải trong nhà, nếu cho đi thì có nghĩa là cho mất phần lộc của gia đình; Không quét rác vì bị xem là quét tiền ra cửa; Không tặng thuốc men hay dao nhọn vì bị xem là dấu hiệu của bệnh tật và xung khắc; Kiêng không mặc quần áo màu trắng, đen vì đây là những màu vốn được dân ta cho là màu của tang tóc, buồn bã; Không được đến chơi Tết nhà người khác nếu trong năm cũ gia đình có tang;… Nói chung, trong những ngày đầu năm người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa, buồn đau.
Khi đến chơi Tết nhà người khác bạn nên chú ý những điều kiêng kị, cẩn thận để tránh mang đến điều không may, không tốt cho gia đình người khác và cũng là điều không vui cho gia đình mình trong năm mới.

GD Star Rating
loading...

Bạn đã đọc chưa?

Trả lời

Email của bạn sẽ không bị công bố công khai.Các trường bắt buộc phải nhập được đánh dấu *

*